BÀI HỌC HẰNG NGÀY

 Thứ Sáu ngày 19 tháng 10, 2018

GIÁO TRÌNH Trường Bô KinhHòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.

Trường Bộ Kinh
Digha Nikaya

GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH HƯỚNG DẪN BÀI HỌC

NGÀY 19/10/2018

22. Đại kinh Niệm xứ (Mahàsatipatthana sutta)

 

Đại Kinh Niệm Xứ là bài pháp dài của Đức Phật về pháp tứ niệm xứ. Trong giờ học hôm nay chỉ nhắm vào một số điểm quan trọng qua các câu hỏi sau:

1.    Chữ niệm – sati ở đây nghĩa là gì?

2.    Tứ niệm xứ còn được gọi là thiền quán. Chữ thiền (jhàna) ở đây có đúng với kinh văn?

3.    Niệm xứ (satipatthana) được hiểu thế nào?

4.    Tại sao chỉ có bốn mà không là ba hay năm?

5.    Tại sao hai bài kinh niệm xứ đều được giảng tại xứ Kuru?

6.    Pháp tứ niệm xứ trong pháp học và pháp hành đồng dị thế nào?

7.    Tại sao các vị thiền sư thường nói ngoài Phật Pháp không có pháp tu tứ niệm xứ?

Vì sự quan trọng của bài kinh nầy nên phần trình bày sẽ có không giống những bài kinh khác của Trường Bộ Kinh với những điểm sau:

a.    Bài học sẽ mang hình thức vấn đáp

b.    Chánh kinh gồm cả hai Phạn văn và Việt văn đối chiếu

c.     Có phần chú thích các từ vựng

d.    Có thêm phần “khảo dị” ghi lại một số quan điểm khác biệt của chư vị thiền sư và học giả

------------

19/10/2018

1.2 Quán thân - Niệm Bốn Đại Oai Nghi


CHÁNH KINH


Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu gacchanto vā ‘gacchāmī’ti pajānāti, ṭhito vā ‘ṭhitomhī’ti pajānāti, nisinno vā ‘nisinnomhī’ti pajānāti, sayāno vā ‘sayānomhī’ti pajānāti, yathā yathā vā panassa kāyo paṇihito hoti tathā tathā naṃ pajānāti.

 

3. Lại nữa, này các Tỷ keo, Tỷ kheo đi, biết rõ : "Tôi đi"; hay đứng, biết rõ: "Tôi đứng"; hay ngồi, biết rõ: "Tôi ngồi"; hay nằm , biết rõ: "Tôi nằm". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân như thế ấy.

 

Iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati. ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

 

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.

 

THẢO LUẬN

 

1. Pháp kinh hành hay thiền hành có phải nằm trong pháp niệm bốn đại oai nghi?

2. Làm thế nào để duy trì chánh niệm liên tục trong bốn đại oai nghi?

3. Phải chăng bằng cách thay đổi oai nghi hành giả có khả năng áp chế một số phiền não?

4. Pháp niệm bốn đại oai nghi có thể được xem là một "pháp tu chủ lực" như niệm thể trược, niệm hài cốt..?

5. Niệm bốn đại oai nghi có tu tập chung với pháp niệm khác?

-----------------

18/1/2018

1.2 Quán thân - niệm hơi thở

CHÁNH KINH

374. “kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati? idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. so satova assasati, satova passasati. dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti. rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti. ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati. ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati.

2. Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán thân trên thân?

Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy biết rõ: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy biết rõ: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, vị ấy biết rõ: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, vị ấy biết rõ: "Tôi thở ra ngắn"; Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

 “seyyathāpi, bhikkhave, dakkho bhamakāro vā bhamakārantevāsī vā dīghaṃ vā añchanto ‘dīghaṃ añchāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā añchanto ‘rassaṃ añchāmī’ti pajānāti evameva kho, bhikkhave, bhikkhu dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti. ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati.

Này các tỷ kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay biết rõ thiện xảo, khi quay dài, biết rõ rằng: "Tôi quay dài"; hay khi quay ngắn, biết rõ rằng: "Tôi quay ngắn." Cũng vậy, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo thở vô dài, biết rõ: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài biết rõ: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, biết rõ: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, biết rõ: "Tôi thở ra ngắn"; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati. ‘atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

Như vậy, vị ấy sống, quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước vật gì ở trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.

THẢO LUẬN

1.    Phải chăng chỉ có pháp niệm hơi thở mới theo cách chọn nơi tu tập và tư thế ngồi: đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt.(idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā)?

2.    Biết là “thở vào” hay phải có chủ ngữ “tôi thở vào” (passasāmi

3.    Chữ biết (pajānāti) dùng để chỉ chánh niệm (sati) ở đây hàm ý gì?

4.    Cảm giác toàn thân (sabbakāyapaṭisaṃvedī) chỉ cho trạng thái nào?

5.    An tịnh thân hành (passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ) phải chăng chỉ cho hơi thở tự nhiên?

6.    Quán thân trên ngoại thân (bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati) đối với hành giả là gì?

7.    Tại sao Phật dạy sanh và diệt rồi cộng chung sanh diệt (samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati)?

8.    Cụm từ “Vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước vật gì ở trên đời. (anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati) mang ý nghĩa gì?

-------------

17/10/2018

1.1 Duyên khởi

 

CHÁNH KINH

 

372. evaṃ me sutaṃ ekaṃ samayaṃ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṃ nāma kurūnaṃ nigamo. tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi “bhikkhavo”ti. “bhaddante”ti VAR te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. bhagavā etadavoca

 

Tôi nghe như vầy

1. Một thời, Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu lâu), tại Kammàssadhamma (Kiềm ma sắt đàm) - đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các vị Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo." Các Tỷ kheo trả lời Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn." Thế Tôn nói như sau:

 

373. “ekāyano ayaṃ, bhikkhave, maggo sattānaṃ visuddhiyā, sokaparidevānaṃ samatikkamāya dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṃ cattāro satipaṭṭhānā.

 - Này các Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, đoạn tận khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn niệm xứ.

 “katame cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.

Thế nào là bốn? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời.

 

 

THẢO LUẬN

1.    Cụm từ “ekàyano” nên được hiểu là con đường độc nhất hay con đường trực tiếp hoặc con đường có mục đích duy nhất?

2.    “Vượt khỏi sầu não (sokaparidevānaṃ samatikkamāya)” khác biệt gì với “đọan tận khổ ưu ( dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya)”?

3.    Cách nói “quán thân nơi thân, quán thọ nơi thọ, quán tâm nơi tâm, quán pháp nơi pháp” hàm nghĩa gì?

4.    Cụm từ nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm (ātāpī sampajāno satimā) được hiểu thế nào trong sự tu tập tứ niệm xứ?

5.    Cụm từ “chế ngự tham ưu  - vineyya loke abhijjhādomanassaṃ” mang ý nghĩa gì?

 

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

 

-ooOoo-

@@@